Danh mục sản phẩm

Hỗ trợ trực tuyến

 

Tel:        +84 04 66603216

HP:         +84 902216776

Fax:       +84 04 37548487

 

      

 

 

Bản đồ

Lượt truy cập

Khả năng dò đo laze khoảng cách lớn của FARO Laser Tracker

Model: Faro Laser Tracker
Xuất xứ: Mỹ - USA
Trạng thái kho: còn trong kho

 Khả năng dò đo laze khoảng cách lớn của FARO Laser Tracker

Vận hành của máy dò đo laze cũng dễ hiểu: nó đo hai góc và một khoảng cách. Máy phát đi một chùm tia laze đến một mục tiêu có khả năng phản hồi trở lại và được gắn lên đối tượng được đo. Chùm tia phản hồi từ mục tiêu sẽ đi theo đường đi của nó, trở lại máy tại cùng vị trí khi nó được phát đi. Mục tiêu phản hồi có nhiều loại khác nhau, nhưng phổ biến nhất là loại mục tiêu phản hồi hình cầu có thể gắn được (SMR) lên các vị trí cần thiết. Vì chùm tia đi trở lại vào máy dò đo, nên nó đi qua bộ đo để đo khoảng cách từ máy đến SMR. Bộ đo khoảng cách có thể là một trong hai loại, loại giao thoa hoặc loại đo khoảng cách tuyệt đối (ADM) .
Một máy dò đo laze có hai bộ encoder đo góc xoay. Các máy này đo định hướng về góc của hai trục cơ học của máy: trục góc phương vị và trục cao độ. Các góc đo được từ các encoder và khoảng cách đo được từ bộ đo khoảng cách, đủ để xác định vị trí chính xác của điểm tâm của SMR. Do điểm tâm của SMR luôn luôn nằm tại một khoảng cách cố định ứng với bề mặt được đo, nên tọa độ của bề mặt hoặc của điểm đo có gắn SMR sẽ ghi được dễ dàng. Đo khoảng cách, chức năng quan trọng của máy dò đo laze, có thể là do có gia số hoặc đo tuyệt đối. Đo khoảng cách có gia số được thực hiện bởi một bộ giao thoa và một bộ ổn định tần số, dùng laze heli-neon . Chùm laze tách ra thành hai chùm nhỏ. Một chùm nhỏ đi trực tiếp vào bộ giao thoa. Chùm kia phát ra khỏi máy dò đo, và bị phản xạ khỏi SMR, trên đường trở về đi vào bộ giao thoa. Trong bộ giao thoa, hai chùm giao với nhau, tạo ra một sự thay đổi có chu kỳ theo một khoảng bằng một phần tư bước sóng của ánh sáng ( ~ 0.0158 micron). Mạch đếm điện tử đếm sự thay đổi theo chu kỳ (gọi là " đếm rìa ") để xác định khoảng cách mà chùm tia đã đi qua.
Khả năng đo xa tuyệt đối (ADM) đã được ứng dụng trong một thời gian dài. Trong vòng mười năm qua, hệ thống ADM đã được cải tiến đáng kể, cho độ chính xác tương đương với đo giao thoa. Lợi thế của việc đo ADM so với đo theo gia số là khả năng hướng chùm tia một cách đơn giản vào mục tiêu và "bắn". Hệ thống ADM đo khoảng cách đến mục tiêu một cách tự động, ngay cả khi chùm tia trước đó đã bị phá vỡ. Trong một máy dò đo dùng ADM, tia sáng hồng ngoại từ laze bán dẫn phản xạ khỏi SMR và lại đi vào máy dò đo, nơi nó được chuyển đổi thành tín hiệu điện. Mạch điện tử phân tích các tín hiệu để xác định thời gian tia sáng truyền đi, nhân giá trị này với tốc độ ánh sáng trong không khí để xác định khoảng cách từ máy dò đo đến SMR.
Bộ đo khoảng cách tuyệt đối đầu tiên xuất hiện trong máy dò đo vào khoảng giữa những năm 1990. Tại thời điểm đó, các bộ đo ADM hoạt động quá chậm để cho phép quét các bề mặt. Vì vậy, tất cả các máy dò đo laze đều có một bộ giao thoa độc lập, hoặc một bộ giao thoa và một bộ ADM. Đến nay một số bộ đo khoảng cách tuyệt đối đã được chế tạo đủ nhanh để cho phép quét tốc độ cao, với sự giảm không đáng kể về độ chính xác. Do đó một số máy dò đo hiện đại chỉ chứa một bộ ADM mà không có bộ giao thoa .
Một chức năng khác của máy dò đo là lái và kiểm soát chùm tia. Một dạng máy dò đo mới ra mắt đã có thể hướng chùm tia laze trực tiếp từ cơ cấu quay của nó. Một dạng máy khác là phản xạ một chùm tia laze ra khỏi  một gương xoay. Trong cả hai trường hợp, máy dò đo đã hướng các chùm tia laze theo hướng mong muốn bằng cách quay trục cơ học. Trong một số ứng dụng, máy dò đo giữ chùm tia tập trung vào một SMR di chuyển nhanh. Thực hiện việc này bằng cách tách ra một phần của chùm tia laze phản hồi  đến một máy dò vị trí (PSD ). Nếu chùm tia laser tác động vào trung tâm SMR, chùm tia tách ra cũng tác động vào trung tâm của PSD, tạo ra một tín hiệu lỗi. Tín hiệu này điều khiển chuyển động quay của trục cơ khí để giữ cho các chùm tia tập trung vào SMR.

SẢN PHẨM CÙNG LOẠI